Đăng nhập

Ảnh nền banner

Báo cáo một số kết quả sản phẩm khoa học và công nghệ nổi bật năm 2025

Ngày đăng:04/12/2025

Lượt xem : 131

16px

Năm 2025, Viện Sinh học đã đạt được rất nhiều sản phẩm KH&CN, trong đó, có một số kết quả nổi bật như:

1.      Công nghệ vaccine thực vật: Phức hợp nano protein COE/COE-S1D tái tổ hợp từ PEDV được sản xuất từ thực vật có tính sinh miễn dịch cao trên động vật thí nghiệm

Xuất xứ: Sản phẩm là kết quả của đề tài Nghị định thư cấp Nhà nước “Nghiên cứu tạo phức hệ nano kim cương gắn protein kháng nguyên vỏ virus gây bệnh tiêu chảy ở lợn định hướng phát triển vaccine” (2020-2023) mã số NĐT/TW/21/09 do TS. Hoàng Thị Thu Hằng làm chủ nhiệm và đề tài “Đánh giá tính sinh miễn dịch trên động vật thí nghiệm của protein COE/G2a oligomer tái tổ hợp từ thực vật nhằm định hướng phát triển vắc xin phòng chống bệnh tiêu chảy cấp ở lợn (PED)” mã số CSCL08.02/23–24 do TS. Hồ Thị Thương làm chủ nhiệm.

Giới thiệu tóm tắt về sản phẩm: Porcine epidemic diarrhea virus (PEDV) là tác nhân gây bệnh đường ruột có khả năng lây lan nhanh và gây tỷ lệ tử vong cao ở lợn con, gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi của nhiều quốc gia tại khu vực Châu Á, trong đó có Việt Nam. Vùng COE và S1D trên protein gai (Spike protein) của PEDV đã được xác định là các epitope trung hòa quan trọng, thích hợp cho phát triển vắc-xin tiểu đơn vị. Chiến lược kết hợp protein kháng nguyên với hạt nano để tạo nên các kháng nguyên có các đặc tính “giống vi rút” (virus- like feature) đã được chứng minh về khả năng cải thiện đáp ứng của hệ miễn dịch với các virus gây bệnh. Các hạt nano silica và nano kim cương đã được xem xét như một vật liệu nano tiềm năng cho phát triển nano-vắc-xin. Các nghiên cứu gần đây của chúng tôi đã chứng minh tiềm năng của việc kết hợp protein tái tổ hợp có nguồn gốc thực vật với vật liệu nano nhằm nâng cao hiệu quả sinh miễn dịch. Cụ thể, protein COE-pII tái tổ hợp được sản xuất trong cây thuốc lá N. benthamiana, từ chủng PEDV độc lực cao thuộc nhóm gen 2a tại Việt Nam, khi phối trộn với hạt nano silica chức năng hóa (FSi) đã tạo thành phức hợp COE–FSi (1:8,5, w/w) có khả năng tăng đáng kể đáp ứng miễn dịch dịch thể và qua trung gian tế bào, thể hiện qua mức IgG, IgA và IFN-γ cao hơn rõ rệt so với protein COE tự do. Tương tự, protein COE–S1D-pII tái tổ hợp được sản xuất trong cây thuốc lá N. benthamiana, khi phối trộn với hạt nano kim cương (ND) ở tỷ lệ 1:24 (w/w), đã tăng cường mạnh mẽ đáp ứng miễn dịch dịch thể và niêm mạc ở lợn nái và lợn con, thông qua tăng hiệu giá kháng thể IgG, IgA đặc hiệu và kháng thể trung hòa PEDV. Những kết quả này khẳng định vai trò điều biến miễn dịch vượt trội của vật liệu nano – bao gồm nano silica và nano kim cương – trong tăng cường tính sinh miễn dịch của các protein tái tổ hợp COE và COE–S1D có nguồn gốc thực vật, mở ra hướng phát triển vắc-xin tiểu đơn vị thế hệ mới phòng chống PEDV hiệu quả và an toàn hơn. Kết quả nghiên cứu của phức hợp COE/COE-S1D với hạt nano silica và nano kim cương được minh họa Hình dưới.

image

Hình ảnh minh hoạ các kết quả nghiên cứu của phức hợp COE/COE-S1D với hạt nano silica và nano kim cương

Ý nghĩa về mặt khoa học: Hai nghiên cứu này cho thấy tiềm năng của vật liệu nano trong việc tăng cường tính sinh miễn dịch của protein tái tổ hợp COE và COE–S1D có nguồn gốc thực vật chống lại PEDV. Việc kết hợp nano silica và nano kim cương với các kháng nguyên này không chỉ nâng cao đáp ứng miễn dịch dịch thể và tế bào, mà còn chứng minh vai trò điều biến miễn dịch của vật liệu nano như chất mang và tá dược hiệu quả. Kết quả góp phần khẳng định nền tảng biểu hiện protein ở thực vật kết hợp công nghệ nano là hướng đi triển vọng cho phát triển vắc-xin tiểu đơn vị thế hệ mới trong thú y.

Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Ở Việt Nam, dịch PED đang có mặt ở khắp các tỉnh thành trong cả nước, gây ảnh hưởng lớn đến kinh tế chăn nuôi lợn do làm tăng tỷ lệ bệnh, tỷ lệ chết cao đặc biệt trên lợn con theo mẹ từ 50 – 100%. Chủng PEDV G2 là tác nhân gây bệnh trong các dịch PED. Cho đến nay, trên thị trường chưa có vắc xin tiểu đơn vị nào phòng các chủng PEDV G2 do Việt Nam sản xuất. Do đó, việc phát triển một loại vắc xin phòng PEDV G2 ở Việt Nam là điều vô cùng cần thiết. Kết quả nghiên cứu này mở ra hướng ứng dụng vật liệu nano trong tăng cường hiệu quả vắc-xin thú y, đặc biệt đối với virus tiêu chảy dịch tễ ở lợn (PEDV). Việc kết hợp protein tái tổ hợp COE và COE–S1D có nguồn gốc thực vật với hạt nano silica và nano kim cương giúp tăng khả năng sinh miễn dịch, qua đó nâng cao hiệu quả bảo hộ cho vật nuôi. Bên cạnh đó, nền tảng sản xuất protein ở thực vật mang lại chi phí thấp, dễ mở rộng quy mô và an toàn sinh học cao, tạo tiền đề cho phát triển các vắc-xin tiểu đơn vị thế hệ mới, không chỉ cho PEDV mà còn ứng dụng cho nhiều bệnh truyền nhiễm khác ở động vật.

Ý nghĩa đối với kinh tế xã hội: Nghiên cứu có ý nghĩa thiết thực đối với ngành chăn nuôi lợn Việt Nam, vốn thường xuyên chịu thiệt hại nặng nề do các bệnh tiêu hóa gây tử vong cao như PEDV. Việc phát triển vắc-xin tiểu đơn vị có nguồn gốc thực vật kết hợp hạt nano silica và nano kim cương không chỉ giúp tăng hiệu quả phòng bệnh và giảm tỷ lệ chết ở lợn con, mà còn giảm phụ thuộc vào vắc-xin nhập khẩu, hướng tới tự chủ công nghệ sinh học trong nước. Đồng thời, mô hình sản xuất này có thể tận dụng nguồn nguyên liệu nông nghiệp sẵn có, giảm chi phí sản xuất, và thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp công nghệ cao, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và tính bền vững của ngành chăn nuôi Việt Nam.

Triển vọng nhân rộng các kết quả/sản phẩm trong tương lai: Sự thành công của nghiên cứu là tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo về khả năng ứng dụng rộng rãi công nghệ nano kết hợp hệ biểu hiện thực vật để sản xuất vắc-xin tiểu đơn vị trong nước với chi phí thấp, hiệu quả cao và dễ mở rộng quy mô công nghiệp.

Công trình công bố liên quan:

Ho TT, Tran HT, Nguyen PMT, Bui HT, Nguyen HTT, Le TBT, Pham MD, Hsiao WW-W, Nguyen DH, Chu HH, Pham NB and Hoang HTT (2025) A nanodiamond-formulated plant protein induces robust immunity against porcine epidemic diarrhea virus in piglets. Front. Immunol. 16:1674222. (Q1, IF 5.9; Citescore 10.8).

Ho TT, Tran HT., Nguyen LD et al. The effect of silica nanoparticles on the immunogenicity of plant-based recombinant COE protein of porcine epidemic diarrhea virus in mice. J Nanopart Res 27, 157 (2025). (Q2, IF 2.6, Citescore 4.0).

2. Bằng độc quyền sáng chế: Chủng vi khuẩn bacillus flexus DSVK7 ưa nhiệt ưa muối có khả năng tổng hợp chất hoạt động bề mặt sinh học và phân hủy hydrocabon dầu mỏ

Xuất xứ: Sản phẩm là kết quả của nhiệm vụ Khoa học Công nghệ do Thủ tướng Chính phủ giao cho Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, mã số CP 1862-02/20-22 do TS. Kiều Thị Quỳnh Hoa, phòng Các chất có hoạt tính sinh học từ Vi sinh vật, Viện Sinh học. Sản phẩm đã được Cục sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ cấp bằng độc quyền sáng chế số 50681 theo quyết định số 146373/QĐ-SHTT ip, ngày 24/7/2025.

Giới thiệu tóm tắt về sản phẩm: Khi ứng dụng các vi sinh vật không chịu nhiệt chịu muối để xử lý hydrocacbon dầu mỏ ô nhiễm ở nơi điều kiện môi trường khắc nghiệt như các vùng triều ven biển, ngoài khơi vào mùa hè, hay ở các giếng khoan/khai thác dầu khí nhiệt độ lên tới 45-50oC là không khả thi. Ở điều kiện môi trường khắc nghiệt, các vi sinh vật phân hủy hydrocacbon dầu mỏ khó có thể sinh trưởng và phát triển được vì vậy hoạt tính phân hủy hydrocacbon dầu mỏ và tổng hợp hợp chất hoạt động bề mặt sinh học cũng bị bất hoạt. Tuy nhiên, vi sinh vật có khả năng sinh trưởng và phát triển ở điều kiện nhiệt độ và độ muối cao là ít, lại càng hiếm có chủng vi sinh vật vừa ưa nhiệt, ưa muối vừa có khả năng phân hủy hydrocacbon dầu mỏ và tổng hợp hợp chất hoạt động bề mặt sinh học. Do đó, việc nghiên cứu lựa chọn các chủng vi khuẩn ưa nhiệt, ưa muối có khả năng tổng hợp hợp chất hoạt động bề mặt sinh học trên nguồn cơ chất hydrocacbon dầu mỏ của sáng chế là có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Sáng chế đề cập đến chủng vi khuẩn Bacillus flexus DSVK7 ưa nhiệt, ưa muối vừa có khả năng tổng hợp chất hoạt động bề mặt sinh học (CHĐBMSH) vừa có khả năng phân hủy hydrocacbon dầu mỏ. Chủng vi khuẩn B. flexus DSVK7 theo sáng chế có khả năng sử dụng hydrocacbon dầu mỏ như nguồn cacbon duy nhất và cho phép phân hủy lên đến 91% dầu trong môi trường ô nhiễm dầu. Chủng này có khả năng tổng hợp chất hoạt động bề mặt sinh học với chỉ số nhũ hóa đạt 75% có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt ở điều kiện nhiệt độ cao (≈ 50oC) và nồng độ NaCl cao (≈ 7% w/v)).

image

Ý nghĩa về mặt khoa học: Chủng vi khuẩn Bacillus flexus DSVK7 ưa nhiệt, ưa muối có khả năng phân hủy hydrocacbon dầu mỏ và tổng hợp CHĐBMSH lần đầu được phân lập và tuyển chọn ở Việt Nam là đóng góp mới, có giá trị khoa học cao. Chủng vi khuẩn này có thể được sử dụng để tạo chế phẩm sinh học phân hủy dầu ứng dụng trong xử lý ô nhiễm dầu và nâng cao hiệu suất khai thác dầu.

Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Trong thực tế, việc xử lý ô nhiễm dầu mỏ trong môi trường khắc nghiệt như vùng triều, ven biển, giếng khoan khai thác dầu khí, cơ sở lọc hóa dầu, hay trong các hệ thống xử lý dầu ô nhiễm … gặp nhiều khó khăn do phần lớn vi sinh vật thông thường không thể sinh trưởng và phát triển trong môi trường với nhiệt độ và hàm lượng muối cao. Việc ứng dụng chủng Bacillus flexus DSVK7 ưa nhiệt, ưa muối, vừa có khả năng phân hủy hydrocacbon dầu mỏ vừa có khả năng tổng hợp CHĐBMSH có thể phát triển thành chế phẩm sinh học xử lý ô nhiễm dầu là giải pháp sinh học hiệu quả và bền vững, giúp khắc phục hạn chế này. Ưu điểm của giải pháp này là an toàn, hiệu quả, không gây ô nhiễm thứ cấp cho con người và môi trường.

Ý nghĩa đối với kinh tế xã hội: Việc ứng dụng chủng vi khuẩn nghiên cứu giúp tăng hiệu quả và giảm chi phí xử lý ô nhiễm dầu và nâng cao hiệu suất khai thác dầu mỏ. Việc làm chủ được công nghệ sản xuất chế phẩm sinh học phân hủy dầu trong nước từ các chủng vi khuẩn tiềm năng sẽ giúp giảm phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu. Bên cạnh việc bảo vệ tài nguyên biển, phục hồi hệ sinh thái ven bờ, bảo đảm an toàn sinh thái cho các vùng chịu ảnh hưởng bởi hoạt động dầu khí, nghiên cứu cũng mở ra cơ hội hợp tác giữa các viện nghiên cứu, doanh nghiệp dầu khí và các cơ sở sản xuất chế phẩm sinh học. Hơn nữa, nghiên cứu tạo thêm việc làm, gia tăng giá trị kinh tế và đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.

Triển vọng nhân rộng các kết quả/sản phẩm trong tương lai: Chủng Bacillus flexus DSVK7 có thể được nuôi cấy nhân rộng ở quy mô công nghiệp để sản xuất chế phẩm sinh học phân hủy dầu hoặc CHĐBMSH sinh học thương mại. Bên cạnh đó, CHĐBMSH do chủng này tạo ra có thể ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác như công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm, nông nghiệp, hay sản xuất vật liệu sinh học thân thiện môi trường.

3. Các bài báo về lĩnh vực đa dạng sinh học: Phát hiện và mô tả 124 loài mới, 7 chi/giống mới và 1 họ mới cho khoa học

Xuất xứ: Các phát hiện mới là kết quả nghiên cứu từ các đề tài nghiên cứu cấp Viện Hàn lâm, cấp Viện Sinh học, đề tài hỗ trợ của Quỹ NAFOSTED, các nhiệm vụ hợp tác quốc tế và chương trình nghiên cứu chung với các đối tác trong và ngoài nước.

Giới thiệu về nhóm các công trình: Trong năm 2025, nhiều công trình khoa học đã đạt được kết quả nổi bật trong lĩnh vực đa dạng sinh học, với việc phát hiện và mô tả 124 loài mới, 7 chi/giống mới và 1 họ mới cho khoa học, góp phần khẳng định vai trò tiên phong của các nhóm nghiên cứu của Viện Sinh học. Trong đó, có 27 loài thực vật, 9 ký sinh trùng, 2 loài tuyến trùng, 22 loài Động vật đất, 8 loài động vật thủy sinh, 43 loài côn trùng, 7 loài lưỡng cư, 6 loài bò sát, 1 loài thú.

Tiêu biểu, việc phát hiện và mô tả loài thú mới thuộc họ Chuột chũi (Talpidae) với tên khoa học được xác lập Euroscaptor darwini sp. nov. từ các mẫu vật thu thập ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (tỉnh Thanh Hóa) với đặc tính tiến hóa độc lập, phản ánh sự cô lập lâu dài của quần thể tại vùng núi cao, điều này cho thấy tiềm năng đa dạng sinh học cao và độc đáo của Việt Nam, ẩn chứa nhiều tính mới đang chờ được khám phá. Các nhà khoa học đã mô tả hai loài bọ xít bắt mồi mới E. batxatensisE. konkakinhensis, hai loài bò sát mới gồm Acanthosaura cuongi và thạch sùng ngón Cyrtodactylus arnei từ đảo Hòn Tre. Nhóm lưỡng cư, hai loài cóc mày mới Leptobrachella batxatensisL. duyenae và loài ếch gai Quasipaa verrucospinosa. Đối với nhóm nhuyễn thể và giáp xác, bốn loài tôm suối mới thuộc giống Caridina được phát hiện ở miền Bắc Việt Nam, góp phần làm sáng tỏ tính đặc hữu cao của hệ sinh thái nước ngọt vùng núi đá vôi. Ở nhóm chân kép, các nhà khoa học mô tả hai loài mới thuộc giống Kronopolites và hai loài mới thuộc giống Hylomus. Đặc biệt, trong lĩnh vực ký sinh trùng học, loài sán đơn chủ mới Heterobothrium phamvanluci ký sinh trên Cá nóc vàng tại Vịnh Bắc Bộ. Ngoài ra, một loài ong gốm mới Euodynerus furvus được mô tả, mở rộng hiểu biết về nhóm ong Cánh màng bắt mồi tại Việt Nam.

Ý nghĩa về mặt khoa học: Những phát hiện mới này có đóng góp quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu về phân loại học, phát sinh chủng loại và tiến hóa của các nhóm sinh vật, góp phần làm giàu tri thức nhân loại và quảng bá giá trị đa dạng sinh học của quốc gia.

Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học cấp quốc gia và các địa phương, xây dựng các chính sách quản lý, bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên sinh vật.

Ý nghĩa đối với kinh tế xã hội: Góp phần cung cấp cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển xanh và bền vững của đất nước, tăng giá trị dịch vụ hệ sinh thái, giảm thiểu ảnh hưởng của thiên tai và tác động của biến đổi khí hậu. 

image

Hình ảnh của một số loài mới được phát hiện và mô tả

Công trình công bố liên quan:

Euroscaptor darwini sp. nov., a new species of mole (Mammalia, Eulipotyphla, Talpidae) from the north-central mountains in Vietnam (2025) Nguyễn Trường Sơn, Bùi Tuấn Hải, Đậu Quang Vinh, Lê Đình Phương, Vũ Thị Hương Yến. ZooKeys 1255: 239-274 (Q1, IF 1.3; Citescore 2.5).

Mountainous millipedes in Vietnam. V. The millipede genus Kronopolites Attems, 1914 (Diplopoda, Polydesmida, Paradoxosomatidae), with descriptions of two new species (2025) Nguyễn Đức Anh, Vũ Thị Thanh Tâm, Phùng Thị Hồng Lưỡng, Trần Đức Lương, Lê Hùng Anh. ZooKeys, 1249: 223–245. https://doi. org/10.3897/zookeys.1249.155280 (Q1; IF 1.3; Citescore 2.5).

Mountainous millipedes in Vietnam. III. Two new dragon millipedes from limestone mountains in northern Vietnam (Polydesmida, Paradoxosomatidae, Hylomus), with an identification key to Vietnamese Hylomus species (2025) Nguyễn Đức Anh, Vũ Thị Thanh Tâm, Nguyễn Thị Thu Anh. ZooKeys 1223: 247–262. https://doi.org/10.3897/zookeys.1223.139649 (Q1; IF 1.3; Citescore 2.5).

Descriptions of four new species of atyid shrimp (Crustacea, Decapoda, Atyidae) in Vietnam (2025) Đỗ Văn Tứ, Phan Thị Yến, Kristina von Rintelen, Lê Hùng Anh, Thomas von Rintelen. ZooKeys. 1247: 151–186. DOI: 10.3897/zookeys.1247.148607 (Q1; IF 1.3; Citescore 2.5).

Taxonomic revision of the Quasipaa verrucospinosa complex (Amphibia, Dicroglossidae) in Vietnam, with descriptions of two new species. Phạm Thế Cường, Hoàng Văn Chung, Phan Quang Tiến, Phạm Văn Anh, Ông Vĩnh An, Nguyễn Thị Hồng Viên, Thomas Ziegler, Nguyễn Quảng Trường. ZooKeys, 1240: 139–175. (Q1, IF 1.3, Citescore 2.5).

Epidaus batxatensis and Epidaus konkakinhensis, two new species of the genus Epidaus Stål (Insecta: Hemiptera: Reduviidae: Harpactorinae) from Vietnam. Trương Xuân Lam, Phan Thị Giang, Thái Thị Ngọc Lam, Nguyễn Đắc Đại, Hà Ngọc Linh. European Journal of Taxonomy. 2025, 1012. (Q2; IF 1.3; Citescore 2.4).

A new species of Acanthosaura Gray, 1831 (Reptilia: Agamidae) from the Truong Son Mountain Range, Vietnam. Ngô Ngọc Hải, Lê Từ Hoàng Linh, Nguyễn Thiên Tạo, Nguyễn Minh Tuấn, Nguyễn Thị Ngần, Phan Quang Tiến, Nguyễn Quảng Trường, Thomas Ziegler & Đỗ Trọng Đăng. European Journal of Taxonomy. 2025, 976: 108 – 132. (Q2; IF 1.3; Citescore 2.4).

Bùi Thu Hà, Lê Ngọc Hân, Trần Thế Bách (2025) Gymnema phuquocense (Apocynaceae, Asclepiadoideae), a new species from Vietnam. PhytoKeys 251: 203-210. https://doi.org/10.3897/phytokeys.251.136457.

Đỗ Văn Hài, Trần Đức Thiện, Bùi Hồng Quang, Nguyễn Thế Cường, Gang Hao (2025) Novelties in the genus Ardisia (Primulaceae) from Vietnam: a new species and two new records. PhytoKeys 260: 51-62. https://doi.org/10.3897/phytokeys.260.154984

và nhiều công trình khác liên quan.

4. Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ Việt Nam

Xuất xứ: Sách chuyên khảo là kết quả của đề tài cấp Viện Hàn lâm Khoa hoc và Công nghệ Việt Nam mã số ĐLSĐ00.00/20-23 do GS.TS. Nguyễn Quảng Trường chủ nhiệm.

Giới thiệu tóm tắt về sản phẩm: Kết quả đã đánh giá ở Việt Nam có 742 loài động vật bị đe doạ tuyệt chủng gồm: 121 loài thú, 113 loài chim, 103 loài bò sát, 67 loài lưỡng cư, 60 loài cá nước ngọt, 70 loài cá nước mặn, 49 loài côn trùng và hình nhện, 43 loài thủy sinh vật nước ngọt, 36 loài thủy sinh vật nước mặn và 80 loài san hô. Có 656 loài thực vật bị đe dọa tuyệt chủng gồm: 379 loài lớp 2 lá mầm, 173 loài lớp 1 lá mầm, 55 loài ngành thông, 7 loài ngành ương xỉ, 2 loài ngành thông đất, 1 loài ngành khuyết lá thông, 1 loài ngành rong lục, 6 loài ngành rong nâu, 14 loài ngành rong đỏ, 4 ngành rêu tản, 3 loài ngành nấm nang, 9 loài ngành nấm đảm.Theo phân hạng bảo tồn thì có 129 loài động vật và 134 loài thực vật ở bậc CR (cực kỳ nguy cấp), 220 loài động vật và 282 loài thực vật ở bậc EN (nguy cấp), 339 loài động vật và 232 loài thực vật ở bậc VU (sẽ nguy cấp) và 49 loài động vật và 8 loài thực vật ở bậc NT (gần bị đe doạ). Đáng chú ý, có 5 loài động vật đã bị tuyệt chủng (bậc EX) hoặc tuyệt chủng trong tự nhiên (bậc EW) ở Việt Nam, gồm: Hươu sao (Cervus nippon), Tê giác một sừng (Rhinoceros sondaicus), Gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi), Cá sấu hoa cà (Crocodylus porosus) và Rùa ba-ta-gua miền nam (Batagur affinis).

image

Ý nghĩa về mặt khoa học: Đã đánh giá có 742 loài động vật và 656 loài thực vật bị đe dọa tuyệt chủng ở Việt Nam theo tiêu chí cập nhật của IUCN. Đồng thời, cập nhật thông tin về phân loại học, phân bố, tình trạng quần thể và các mối đe dọa đến các loài động vật, thực vật hoang dã của Việt Nam.

Ý nghĩa về mặt thực tiễn:

Sách Đỏ Việt Nam là tài liệu tham khảo quan trọng trong triển khai hoạt động thực thi các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia như Công ước về Đa dạng sinh học (CBD), Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES), Nghị định thư Nagoya về tiếp cận và chia sẻ lợi ích nguồn gen.

Sách Đỏ Việt Nam cung cấp thông tin khoa học hữu ích làm căn cứ để xây dựng và cập nhật các văn bản pháp luật có liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên sinh vật ở Việt Nam. Sách Đỏ cũng là tài liệu tham khảo trong xây dựng các chính sách, chiến lược, quy hoạch cấp quốc gia và ở các địa phương về bảo tồn, sử dụng hợp lý đa dạng sinh học gắn liền với phát triển kinh tế bền vững như đề xuất xây dựng các khu bảo tồn, các vùng đất ngập nước, nuôi trồng các loài thực vật và động vật có giá trị kinh tế, thực phẩm, dược liệu cũng như bảo tồn các loài có giá trị lịch sử, văn hóa của Việt Nam.

Sách Đỏ Việt Nam giới thiệu đến bạn đọc trong nước và nước ngoài về những giá trị thiên nhiên đặc trưng, cần được gìn giữ và phát triển của Việt Nam, qua đó, truyền tải thông điệp yêu thiên nhiên đến xã hội, tiến tới xây dựng một cuộc sống hài hòa giữa con người với môi trường tự nhiên. Đồng thời, tài liệu này cũng đặt ra trách nhiệm với các cơ quan quản lý và với mỗi cá nhân cần có cách ứng xử phù hợp và những hành động cụ thể để bảo vệ các loài động vật, thực vật bị đe dọa tuyệt chủng cũng như bảo tồn đa dạng sinh học cho hôm nay và mai sau.

Ý nghĩa đối với kinh tế - xã hội: Sách đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ Việt Nam là tài liệu hữu ích cho công tác nghiên cứu, đào tạo, quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học vì mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam

Nguồn :admin



VIỆN SINH HỌC - VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

 

Địa chỉ: Số 18 Hoàng Quốc Việt, Phường Nghĩa Đô, Thành phố Hà Nội

Điện Thoại: 024 3836 25 99 - Fax:  024 38363144

Email: admin@ib.ac.vn